Giải pháp Internet An Toàn – Thiết bị G – Smart

KÍNH GỬI :  QUÝ PHỤ HUYNH

Công ty Cổ phần Truyền thông và Công nghệ Thông tin Thần tốc xin gửi lời chào trân trọng, lời chúc may mắn và thành công đến Quý Phụ Huynh.

Thời gian vừa qua, Công ty chúng tôi đã khảo sát và biết được việc quản lý nội dung các hoạt động trên máy tính, Smartphone, Tablet, Smart Tivi và thời gian sử dụng mạng Internet của các em học sinh Tiểu học & Trung học Cơ sở là vấn đề mà rất nhiều phụ huynh rất quan tâm. Thấu hiểu được điều đó, với phương châm “Mang lại tiện ích cho cuộc sống” Công ty chúng tôi giới thiệu đến Quý Phụ Huynh “GIẢI PHÁP SỬ DỤNG INTERNET AN TOÀN” thông qua thiết bị G-Smart do Global NSC Corp nghiên cứu & phát triển.

Thiết bị G – Smart dễ dàng lắp đặt chỉ với một đường truyền Internet của nhà cung cấp dịch vụ Internet bất kỳ, giúp Quý Phụ Huynh có thể tùy chỉnh các trang truy cập từ máy tính, , Smartphone, Tablet, Smart Tivi . .  đồng thời thiết lập được thời gian truy cập Internet của các con,

Thiết bị G – Smart ngăn chặn hơn 2 triệu website có nội dung không phù hợp với trẻ em,  thiết bị G – Smart sẽ mang đến môi trường Internet sạch, lành mạnh giúp Quý Phụ Huynh yên tâm khi cho các con sử dụng mạng Internet.

Chúng tôi tin rằng, thiết bị G – Smart giúp cho Quý Phụ Huynh trong việc quản lý Internet của gia đình và đảm bảo môi trường Internet lành mạnh cho các con học tập và giải trí một cách dễ dàng.

Chúng tôi sẵn sàng tư vấn, đồng hành cùng Quý Phụ Huynh . Xin chân thành cảm ơn và mong muốn mang đến giải pháp Internet an toàn đến với gia đình Quý Phụ Huynh.

THIẾT BỊ G – SMART

 – Giúp bố mẹ kiểm soát được các hoạt động của con trên Internet.

– Người điều khiển thiết bị có thể tùy chỉnh cấm hoặc cho phép truy cập vào các trang web.

– Hạn chế truy cập khoảng 2 triệu trang web có nội dung không phù hợp với trẻ em, máy chủ cập nhật liên tục.

– Phụ huynh kiểm soát được các clips cũng như nội dung mà trẻ em tìm kiếm trên Google, Youtube . .

– Gián tiếp ngăn chặn các tác nhân gây hại cho máy tính, thiết bị sử dụng mạng Internet  từ những trang web xấu.

– Có thể xem lịch sử truy cập các trang web mà máy tính và điện thoại . . đã truy cập.

– Phụ huynh có thể hạn chế thời gian truy cập Internet của trẻ em, đồng thời điều khiển để tắt truy cập mạng từ xa.

– Thiết bị G – Smart  giúp phụ huynh thiết lập tổng thời gian truy cập Internet trong ngày con em của mình.

– Phụ huynh có thể tạo nhiều nhóm truy cập Internet cho nhiều đối tượng khác nhau trong gia đình.

GIẢI PHÁP WIFI AN TOÀN CHO GIA ĐÌNH

– Dễ dàng lắp đặt cũng như kết nối với thiết bị chỉ với 1 đường truyền Internet của bất kỳ nhà cung cấp nào.

– Nhanh chóng truy cập vào hệ thống bằng cách dùng trình duyệt hoặc dễ dàng cài đặt apps qua IOS/Android từ máy tính, điện thoại, máy tính bảng và Smart TV

Mọi chi tiết xin liên hệ :

 Công ty Cổ phần Truyền Thông & CNTT Thần Tốc

Địa chỉ : 64 Trương Định, Phường 7 Quận 3 TP.HCM.

Điện thoại: (028) 3932 5968               Email: info@thantoc.com.vn

Gỉai pháp bảo dưỡng, phục hồi ắc quy tự động tại các trạm BTS

 

  1. TỔNG QUAN VỀ ẮC QUY DÙNG TRONG NGÀNH VIỄN THÔNG

Thị trường  ắc quy toàn cầu hiện nay trị giá khoảng 50 tỷ USD và tăng trưởng ở mức 6%/năm. Một thế hệ mới các thiết bị điện tử với đòi hỏi ngày càng cao về ắc quy và pin đã và đang nổi lên và phát triển như ô tô điện, xe đạp điện, xe máy điện, công nghiệp năng lượng sạch, viễn thông… đang chiếm lĩnh thị trường về ắc quy với quy mô ngày càng lớn.

Trong lĩnh vực hạ tầng mạng Viễn thông tại Việt Nam, ắc quy được sử dụng nhiều tại các trạm phát sóng di động BTS hoặc các thiết bị lưu điện UPS. Chủng loại thường dùng là loại ắc quy chì axit (là loại có các bản cực bằng chì/ ô xít chì ngâm trong dung dịch axit sulfuric). Giá thành của loại ắc quy chì axit hiện nay thay đổi từng tháng do dao động của chì, dầu thô và các yếu tố liên quan như chi phí vận chuyển, nhân công… cùng với nhu cầu ngày càng tăng trên thị trường lớn như Trung quốc, Ấn độ, Châu Mỹ la tinh.

Các phiên bản kĩ thuật của ắc quy chì – axít 

– Ắc quy Lead – Acid (LA) là ắc quy chì công nghệ kín khí AGM – VRLA

– Ắc quy Lead – Carbone (LC / LCA)

– Ắc quy Gel (LG hay ắc quy chì công nghệ GEL / OPzV) có chế độ không sinh khí trong quá trình nạp và phóng điện (sử dụng); thường được gọi là ắc quy – khô.

Trong số đó thì ắc quy Gel OPzV có hiệu quả và chất lượng tốt nhất.

  1. NGUYÊN NHÂN SUY GIẢM HIỆU SUẤT HOẠT ĐỘNG CỦA ẮC QUY

Thông thường ắc quy chì axit sẽ phải hoạt động rất nhiều ở hai trạng thái nạp, xả trong quá trình sử dụng. Tuy nhiên nếu ắc quy sử dụng không đúng cách hoặc chưa được sử dụng trong một thời gian dài sẽ làm bề mặt bản cực bị sulfate và dẫn đến tình trạng ắc quy hỏng hoặc chất lượng kém hơn rất nhiều so với thiết kế ban đầu. Một số nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm hiệu suất hoạt động thậm chí gây ra hỏng hóc của ắc quy là:

Ắc quy sử dụng trong thời gian lâu dài

– Dung môi trong Ắc quy không thuần chất

– Do lỗi của quá trình nạp và bảo dưỡng ắc quy dẫn đến có nhiều kết tủa rắn trên bề mặt bản cực. Thành phần chủ yếu của kết tủa rắn này (khoảng 98%) là sulfate chì (PbSO4). Sự hiện diện quá nhiều của sulfate chì trên bề mặt bản cực ngăn cản quá trình điện hoá làm suy giảm nghiêm trọng dung lượng và tăng nội trở của ắc quy.

Các Cấp độ hư hỏng của ắc quy chì – axit 

  1. Giảm dung lượng

Là cấp độ hư hỏng nhẹ và thường gặp nhất.
Nguyên nhân

– Do sử dụng trong điều kiện bảo dưỡng không tốt, hoặc để lâu không sử dụng

– Do để lâu không sử dụng => tác dụng hóa học giữa placque chì và sulfuric acid tạo nên kết tủa sulfate chì trong placque.

Biểu hiện : (sau khi nạp 10 giờ với dòng In = 1/8 dung lượng).

– Đo đủ volt qui ước.

– Ắc quy sử dụng trong thời gian ngắn đã cạn bình.

– Đo dung lượng ghi nhận mức độ sụt giảm mất khoảng 30% –> 40%.

  1. Ắc quy bị lão hoá 

Rất phổ biến.

Nguyên nhân

Dù sử dụng đúng chế độ và bảo dưỡng tốt trong khoảng thời gian lâu dài thì các tấm bản cực vẫn bị hao mòn do bột chì tan rã dần và rời khỏi tấm cực, đọng thành lớp bùn nâu dưới đáy bình ắc quy. Dung lượng do đó cũng giảm sút, dòng nạp bình thường trở nên quá lớn (ví dụ ắc quy dung lượng 100 Ah nạp dòng bình thường 14A trong 8 giờ, nay chỉ còn dung lượng 50 Ah thì dòng nạp phải là 7A) càng tăng nhanh quá trình phân hoại placque (gọi là “rã lắc”).

Biểu hiện :

– Các tấm placque mềm hoặc nhũn ra, hỗn hợp chì sẵn sàng rã thành bột nhão nếu có tác động vật lý. Bùn nâu lắng nhiều dưới đáy bình.

– Đủ volt qui ước hoặc có giảm chút ít.

– Đo dung lượng thấy giảm nhiều (đến 50%). Bình không dùng đúng và đủ tính năng như trước.

– Có sulfate chì trên đầu cực âm, màu cực âm và cực dương phân hoá rõ rệt (cực dương đen, cực âm xỉn màu và có dấu loang lổ).

  1. Ắc quy phân hoại :

Là ắc quy ở các tình trạng hư hỏng (1) và (2) không được phục hồi và bảo dưỡng ngay mà để quá lâu. Ngoài ra còn do sử dụng ắc quy đến cạn kiệt làm cho liên kết vật lý giữa các hạt chì premium bị phá hoại. Còn có một nguyên nhân chủ quan là nạp ắc quy lộn cực. Tình trạng đảo cực diễn ra làm phân hoá kết cấu vật lý của tấm placque.

Biểu hiện :

– Điện áp dưới ngưỡng 1V / cell (6V/bình 12V).

– Lớp bùn nâu dày đặc, có thể nối tắt các tấm placque.

– Đo không phát hiện được dung lượng. Không còn khả năng sử dụng.

– Biểu hiện ngoại quan tương tự (2) nhưng trầm trọng hơn.

  1. Hư hỏng hỗn hợp và hư hỏng khác.

Có thể một ắc quy bị cả hai trường hợp (1) và (2) hoặc (1) và (3), hay (2) và (3). Ngoài ra còn có thể bị “rớt” cọc (đứt đầu cọc hoặc đứt cầu nối các cell) làm cho việc thông mạch nội trở bị gián đoạn.

III. SỰ CẦN THIẾT PHẢI BẢO DƯỠNG / PHỤC HỒI ẮC QUY VÀ GIẢI PHÁP Vi -POWER

Ắc quy là một phần rất quan trọng trong việc đảm bảo hoạt động liên tục của hệ thống thiết bị viễn thông. Việc hỏng hóc bất ngờ theo thời gian của ắc quy do các lỗi suy giảm hiệu suất hoạt động của ắc quy tại các trạm Viễn thông sẽ mang đến những phiền toái nhất định trong khai thác, vận hành hệ thống thiết bị và gây ảnh hưởng uy tín của Doanh nghiệp. Do vậy, khai thác hiệu quả nhưng tiết kiệm chi phí đối với hệ thống ắc quy hiện có đang là một vấn đề cần thiết và quan trọng.

Nhận thấy tầm quan trọng của vận hành, bảo dưỡng cũng như khắc phục các hỏng hóc chưa nghiêm trọng của ắcc quy trong Viễn thông,  Công Ty CP Truyền Thông & CNTT Thần Tốc đã nghiên cứu, thử nghiệm và sản xuất thành công thiết bị Vi – Power trong việc bảo dưỡng và phục hồi ắc quy cho các hệ thống nguồn dự phòng của  trạm thu phát sóng viễn thông (BTS). Giải pháp Bảo dưỡng và Phục hồi ắc quy bằng thiết bị Vi – Power giúp các doanh nghiệp viễn thông quản lý và tái sử dụng chất thải nguy hại, nâng cao hiệu suất hoạt động và tiết kiệm chi phí đầu tư, cụ thể:

  • Phục hồi dung lượng ắc quy cũ đạt trên 75% so với dung lượng thiết kế ban đầu.
  • Làm chậm quá trình sulfate hóa, hỏng bản cực của ắc quy
  • Giảm tiêu hao Điện năng khi nạp
  • Tiết kiệm chi phí, bảo vệ Môi trường

Thông tin liên hệ:

Công Ty Cổ Phần Truyền Thông & CNTT Thần Tốc

Địa chỉ: 64 Trương Định, Phường 7, Quận 3, TP. Hồ Chí Minh

Điện Thoại: 028. 3932 5968                      Fax: 028. 3932 5968

Email: info@thantoc.com.vn

Công nghệ bức xạ trong xử lý môi trường

XỬ LÝ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG 

BẰNG PHƯƠNG PHÁP CHIẾU XẠ VỚI THIẾT BỊ EB DI ĐỘNG

  1. GIỚI THIỆU CÔNG NGHỆ BỨC XẠ TRONG XỬ LÝ MÔI TRƯỜNG

           Thuốc bảo vệ thực vật là một trong 3 nhóm lớn của hợp chất hoá học hữu cơ độc hại bền vững trong môi trường (POPs), với 4 đặc tính phân biệt chính bao gồm: có độc tính cao, khó phân huỷ trong môi trường tự nhiên (có thể tồn tại rất nhiều năm trước khi bị phân huỷ thành dạng ít độc hại hơn), có khả năng di chuyển và phát tán xa (theo môi trường không khí, đất và nước), có khả năng tích tụ sinh học cao (tích luỹ ổn định trong các hệ động vật và thực vật) từ đó gây ra quá trình lan truyền ô nhiễm theo chuỗi thức ăn. Đối với sức khoẻ con người, POPs gây ra 17 các loại bệnh khác nhau như: ung thư, quái thai, dị dạng, tổn thương gan, rối loạn nội tiết tố, các chứng bệnh về thần kinh, cháy da và mắt, vì vậy việc tiếp xúc kéo dài sẽ dẫn đến nguy cơ về sức khoẻ, đặc biệt là tác động đến phụ nữ và từ đó ảnh hưởng đến các thế hệ tương lai  do quá trình khuyếch đại sinh học và nhiễm độc nguồn thức ăn truyền thống. Thuốc bảo vệ thực vật là một trong những vấn đề môi trường nghiêm trọng của thế kỷ 21, vì vậy để bảo vệ môi trường, hạn chế phát thải các chất ô nhiễm vào môi trường đất, nước và không khí từ các nguồn phát thải gây ảnh hưởng đến hệ sinh thái, cũng như sức khoẻ của người dân. Công nghệ bức xạ được áp dụng để cắt mạch các chất hữu cơ độc hại của POPs thành dạng ít độc hơn, giảm thiểu độc tính đối với môi trường.

Công nghệ bức xạ là sử dụng bức xạ năng lượng cao (bức xạ ion hoá) làm nguồn năng lượng trong các quá trình công nghiệp. Ứng dụng công nghệ bức xạ quy mô công nghiệp đang phát triển mạnh ở nhiều nước trên thế giới. Tổng giá trị sản phẩm chiếu xạ ước tính khoảng  2 tỷ USD/ năm và hàng năm tăng với mức độ khoảng 15% – 20%. Một số ưu điểm của công nghệ bức xạ như: có hiệu quả kinh tế cao, tiết kiệm năng lượng, không gian và nguyên liệu; sản phẩm có độ tin cậy cao (quá trình được kiểm soát hữu hiệu); sản phẩm có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu bảo vệ môi trường (không sử dụng các chất khử độc hại). EB là máy gia tốc chùm tia điện tử tự che chắn, nên có thể lắp đặt thiết bị trong điều kiện làm việc bình thường. Các đơn vị và thông số thường được sử dụng trong công nghệ EB như sau:

– Công suất P (kW) = E (Mev) x I (mA)

– Nếu khối lượng màng  đất chuyển qua  dưới dòng  e dưới 1 đơn vị thời gian là m (g/s), tốc độ băng tải là V (cm/s), độ rộng của dòng W (cm), chiều sâu của dòng L (cm) và tỷ trọng d (g/cm3), ta có  m (g/s)=[V (cm/s) xW (cm) xL (cm)]/ d(g/cm3)

– Liều hấp thụ D: D (kGy) = [E (Mev) x I (mA) x d(g/cm3)]/ [V (cm/s) xW (cm) xL (cm)]

Đối với UV thì cần phải sử dụng chất khai mào quang hoá, còn đối với EB thì không cần nhưng giá trị đầu tư thường cao hơn từ 2 -20 lần cùng công suất. Do vậy UV thường được sử dụng với giá trị đầu tư thấp, tuy nhiên với xu thế sử dụng EB ngày càng gia tăng trên nhiều nước trên thế giới do nhiều ưu điểm khác biệt. Hiện nay ước tính trên thế giới có khoảng  hơn 1.000 thiết bị EB, riêng ở Nhật Bản có khoảng 300 thiết bị hoạt động phục vụ cho mục đích công nghiệp.

  1. XÁC ĐỊNH CÁC TIÊU CHÍ ƯU TIÊN KHI THỰC HIỆN DỰ ÁN

Một số phương pháp  xử lý dư lượng TBVTV tồn dư trong đất như: phương pháp oxy hoá bằng nhiệt độ cao (thiêu đốt), phương pháp chôn lấp, phương pháp sinh học, phương pháp hoá – sinh, phương pháp chiếu UV, phương pháp dùng công nghệ bức xạ (EB). Tuy nhiên, sử dụng phương pháp thực hiện nào cũng đều có ưu nhượt điểm nhất định. Vì vậy, chúng ta sẽ dựa theo các nguyên tắc đánh giá chung như phương pháp đánh giá sơ bộ và phương pháp phân tích đa tiêu chí.

2.1 Nguyên tắc lựa chọn:

Phương án lựa chọn tuân theo các nguyên tắc đánh giá sau:

* Phương pháp đánh giá sơ bộ theo các tiêu chí: tính khả thi, tính kinh tế, tính đa mục tiêu.

* Phương pháp phân tích đa tiêu chí (MCDA): 7 tiêu chí

  1. Mức độ giảm thiểu rủi ro mà phương án có thể đạt được
  2. Những giá trị đem lại cho môi trường khi thực hiện phương án
  3. Chi phí của phương án
  4. Thời gian thực hiện của phương án
  5. Tính khả thi của phương án
  6. Yếu tố rủi ro khi thực hiện phương án
  7. Những tác động xã hội của phương án

2.2 Đánh giá, lựa chọn công nghệ Bức xạ để thực hiện dự án

Phương pháp chiếu xạ được ưu tiên thực hiện vì đây là một xu hướng       sử dụng thiết bị công nghệ cao của thế giới ở thế kỷ 21. Công nghệ bức xạ là một lĩnh vực đa ngành bao gồm Vật lý, Hoá học, Sinh học, Kỹ thuật công nghệ, Thương mại và dịch vụ. Tại Việt Nam và các nước trên thế giới, công nghệ bức xạ được ứng dụng nhiều trong khử trùng dụng cụ y tế, chiếu xạ thực phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm; chế tạo và biến tính vật liệu (polyme, vật liệu nano, vật liệu nanocomposit…); xử lý môi trường (nước thải, bùn thải, khí thải), …và  được đánh giá là công nghệ thân thiện môi trường và tiết kiệm năng lượng, tạo sản phẩm mới, chất lượng cao góp phần thúc đẩy nhanh sự phát triển kinh tế và đem lại lợi ích cho xã hội.

Bảng so sánh ưu nhược điểm của các phương án kỹ thuật

Phương án Ưu điểm kỹ thuật Nhược đểm
Phương pháp thiêu đốt Hiệu quả cao.

Xử lý ở quy mô CN.

Chi phí cao, vận hành phức tạp.

Tiểm ẩn rủi ro khi vận chuyển.

Phương pháp chôn lấp Vận hành đơn giản

Kinh tế chi phí thấp

Chỉ cô lập, không xử lý hiệu quả một cách triệt để.

Phụ thuộc vào điều kiện kho bãi chôn lấp, tiềm ẩn rủi ro khi có thiên tai.

Phương pháp Sinh học Hiệu quả cao với hàm lượng ô nhiễm thấp.

An toàn, thân thiện và tiện lợi

Đối với thuốc BVTV có hàm lượng cao không thể xử lý được.

Hệ vi sinh vật khó ổn định trong môi trường đất.

Phương pháp Hoá sinh Xử lý tại chỗ, đầu tư ban đầu thấp Phải phối hợp nhiều công đoạn phức tạp, khó kiểm soát các phản ứng hoá chất xảy ra nên cần nhiều chuyên gia.

Tiềm ẩn rủi ro về an toàn kỹ thuật.

Phương pháp  phá huỷ bằng tia UV Hiệu quả xử lý cao.

Quy mô phòng thí nghiệm.

Không thể xử lý chất ô nhiễm chảy tràn, chất thải rửa có nồng độ đậm đặc.

 

Công nghệ bức xạ (EB) Hiệu quả cao với mọi loại chất thải, xử lý tại chỗ, thân thiện với môi trường.

Xử lý ở quy mô CN.

Thiết bị có thể di động, thời gian xử lý ngắn

Chi phí đầu tư thiết bị rất cao
Stt Tiêu chí Mức độ ưu tiên Nội dung đánh giá

 

1 TC 1 Ưu tiên cao Xử lý triệt để nguồn ô nhiễm.

Giảm thiểu tác động trước mắt và lâu dài

Ưu tiên trung bình Giảm thiểu được các tác động trước mắt
Ít ưu tiên Giảm thiểu được các tác động lâu dài
2 TC 2 Ưu tiên cao Hiệu quả cao, chi phí thấp
Ưu tiên trung bình Hiệu quả cao, chi phí trung bình
Ít ưu tiên Hiệu quả cao, chi phí cao
3 TC 3 Ưu tiên cao Đa mục tiêu
Ưu tiên trung bình Đa số mục tiêu
Ít ưu tiên Ít mục tiêu

Dựa theo các tiêu chí đánh giá sơ bộ, tiêu chí MCDA và bảng so sánh ưu nhược điểm của các phương án kỹ thuật, phương án công nghệ bức xạ (máy EB di động) có nhiều ưu điểm: xử lý đơn giản, hiệu quả tại chỗ trong thời gian ngắn, sử dụng cho nhiều loại chất thải POPs khó phân huỷ, an toàn trong các giai đoạn xử lý, ít rủi ro và thân thiện với môi trường, thiết bị linh động nên có thể nhân rộng việc thực hiện cho nhiều nơi.

Bảng đánh giá các tiêu chí của phương án đánh giá sơ bộ và tiêu chí MCDA

Stt Tiêu chí Nội dung đánh giá

 

1 TC 1 Không còn rủi ro về môi trường nào tại khu vực. Cho phép việc sử dụng khu vực và các vùng lân cận cho nhiều mục đích.

 

2 TC 2 Giảm thiểu toàn bộ các rủi ro và không có, rất ít những tác động môi trường trong quá trình thực hiện phương án. Phá huỷ được nhiều phân tử hoá chất BVTV POPs nhất. Tiêu tốn ít năng lượng nhất. Lượng phát thải (không khí và nước) thấp nhất.

 

3 TC 3 Chi phí thực hiện, vận hành, quan trắc và chăm sóc sau xử lý thấp nhất.

 

4 TC 4 Thời gian thực hiện phương án xử lý ngắn nhất. Không cần phải quan trắc và chăm sóc sau xử lý.

 

5 TC 5 Phương án kỹ thuật đề xuất khả thi. Công nghệ/kỹ thuật  được lựa chọn khi vận hành không yêu cầu nhân lực có chuyên môn đặc biệt từ nước ngoài. Công nghệ/kỹ thuật được lực chọn có thể dễ dàng được nhân rộng.
6 TC 6 Có ít rủi ro trong quá trình thực hiện nhất

 

7 TC 7 Giúp tăng cường năng lực/ cơ sở hạ tầng liên quan đến xử lý ô nhiễm đất và chất thải.

Có tiềm năng tạo ra nhiều công ăn việc làm trong ngắn hạn và dài hạn nhất.

Có nhiều khả năng được cộng đồng địa phương ủng hộ cho việc thực hiện phương án nhất.

  1. GIỚI THIỆU CÔNG NGHỆ XỬ LÝ Ô NHIỄM ĐẤT BẰNG PHƯƠNG PHÁP CHIẾU XẠ

Các giai đoạn thực hiện như sau:

  1. Giai đoạn chuẩn bị:

– Phân khu, lót màng HDPE, đào xới, tập kết, nghiền nhỏ và làm cho đất ô nhiễm POPs đạt đến độ ẩm thích hợp.

– Bơm bùn đất ô nhiễm POPs cần xử lý vào bể chứa.

  1. Giai đoạn xử lý bằng thiết bị EB:

– Bước 1: Lần lượt di chuyển xe có thiết bị EB đến vị trí khu vực các kho cần xử lý.

– Bước 2: Bơm đất dạng bùn vào băng chuyền.

– Bước 3: Chạy băng tải qua thiết bị EB để xử lý các chất POPs.

  1. Giai đoạn cải tạo và hoàn trả mặt bằng

– Chuyển lượng đất đã qua xử lý xong về vị trí ban đầu.

– Cách ly đất trước khi xử lý và sau khi xử lý.

  1. Thực hiện các biện pháp an toàn trong quá trình xử lý bằng thiết bị EB

– Thoả thuận làm đúng theo các nội quy, các quy định về an toàn lao động khi thi công công trình.

– Khống chế các vấn đề về ô nhiễm môi trường không khí và tiếng ồn bằng cách: không tổ chức thi công cường độ cao vào buổi trưa; các thiết bị, máy móc thi công cơ giới thường xuyên được kiểm tra tình trạng kỹ thuật, an toàn vệ sinh, bảo trì bảo dưỡng; trang bị đầy đủ các thiết bị bảo hộ lao động cho công nhân.

Theo CG TTC 2017

 

Local Positional System

Công nghệ LPS

Phương tiện truyền thông + điều hành cục bộ

 Định vị có khá nhiều phương án. Mỗi phương án có một tầm đáp ứng riêng và có thể nói là … vô tận tuỳ thuộc vào qui mô của không gian định vị.

Ví dụ dùng GPS thì chỉ xác định được vị trí mang tính thông tin tổng quát mà không thể đi vào điều khiển chi tiết hay can thiệp cơ học vào thành phần của đối tượng quan sát. Một số ý tưởng ô tô điều khiển từ xa đã từng muốn đưa GPS vào để điều khiển ô – tự động.

Và GPS lái ô tô … lao vào đường xe lửa … (!).

Đó là tất yếu, vì cự ly ~26.600 Km của vệ tinh GPS cho sai số nhiều mét trong điều kiện tồt và cấp độ cao (với độ phân giải hiện nay).

LPS (Local Positioning System) : Một hệ thống định vị bằng máy phát mặt đất, dùng phương thức trải phổ trực tiếp (DS) để định vị đối tượng, có thể thoả mãn những nhu cầu định vị “khó tính” như điều kiện của các nhóm nghiên cứu địa chất, du lịch v.v…hoặc cụ thể hơn là định vị ô tô – xe máy và cả bộ hành (binh sĩ kỹ thuật cao, điệp viên, người tàn tật, nạn nhân hoả hoạn hay động đất v.v…).

Trong LPS, do máy phát ở gần (chỉ trong khoảng 100 Km) + tối thiểu 2 máy phát cho một giao hội định vị –> góc phương vị với mục tiêu rất lớn so với GPS (500 đến 1000 lần) –> phân giải tự nhiên (*) lớn hơn nhiều nghìn lần so với GPS. Điều này cho phép LPS định vị chính xác đến hàng chục Cm hay hơn nữa, có khả năng chỉ báo chi tiết cả động thái trực quan của cụm quan sát như qui mô (mở rộng diện tích – vết dầu loang chẳng hạn), động thái (một bộ phận di chuyển quanh / dọc theo / xuyên qua cụm quan sát), lộ trình (chuyển động, dừng lại, tiến lùi v.v…) thậm chí ra lệnh điều khiển các bộ phận đó nếu có connect.

(*) Phân giải tự nhiên : xin phân biệt phân giải tự nhiên (hay phân giải vật lý) với phân giải kỹ thuật.

– Phân giải tự nhiên do khoảng cách giữa đối tượng quan sát (hay tham chiếu) với máy quan sát quyết định. Tỷ số giữa số lượng máy quan sát / khoảng cách thời gian qui định góc phương vị, do đó quy định độ phân giải tự nhiên.

– Phân giải kỹ thuật là sử dụng các biện pháp kỹ thuật tác động vào quá trình quan sát để làm tăng độ phân giải ảo.

GPS dùng phân giải kỹ thuật, còn LPS dùng phân giải tự nhiên.

Loại trừ các tham số môi trường, công suất máy phát tham chiếu giả định đạt yêu cầu, trong dải tần số sóng truyền thẳng thì phân giải tự nhiên là 1/4 triệu độ ly giác.


Sai số của vệ tinh GPS với khoảng cách 26.600 Km = 26.600.000 mét ứng với ly giác đó là:

d(l) = 26.600.000 : 4.000.000 = 6,65 mét.

Nếu giao hội hai vệ tinh thì sai số tự nhiên đó là ~ 3,5m, và đó là sai số của định vị GPS hiện nay (sai số với C/A code là 6.7m tại 1.023 triệu chips /s ( CDMA) và
khoảng 30cm với 10.23 triệu chips /s P (Y) code).

Độ chính xác cao nhất của GPS sử dụng cho dân sự chỉ đạt 5m (80%) – 20m (20%) nếu có DGPS thì đạt 1-3m.

Hệ thống GPS sử dụng 7 vệ tinh trong quân sự Mỹ đạt độ chính xác cao nhất 0,5m nhưng đã bị lock bởi lầu năm góc. Đó là GPS Code P, dân chuyên nghiệp Mỹ vẫn dùng nhưng có thể bị lock bất cứ lúc nào.

Sai số của trạm quan trắc mặt đất 100 Km = 100.000 mét là :

d(ll) = 100.000 : 4.000.000 = 0,025 m = 2,5 Cm.

Do thuận lợi về môi trường làm việc (trên mặt đất nên tiêu chuẩn thiết bị thấp, điều kiện di chuyển & lắp đặt dễ dàng hơn trên khoảng không vũ trụ) nên LPS hoàn toàn có khả năng sử dụng rất nhiều trạm quan trắc mặt đất và sử dụng trong phạm vi nhỏ hơn để đạt độ phân giải kỹ thuật rất cao với sai số tính ở hàng Cm (chỉ là dự đoán, vì chỉ mới có điều kiện thực hiện giao hội 2 trạm quan trắc mặt đất mà thôi).

Các chi tiết định vị thể hiện trên cơ sở bản đồ GIS.

Nguyên lý : Hệ máy LPS gồm

Các máy phát “con” (LPS user / LPSU) phát dữ liệu định thời gian (liên tục phát đi mã định vị theo khe thời gian) + kèm máy thu để nhận dữ liệu định vị và điều khiển (nếu có). Mọi thu thập tính toán và điều khiển (nếu có) đều diễn ra ở trạm quan trắc. Nguyên lý này ngược với GPS là dữ liệu định vị GPS thu thập ở đối tượng định vị PO (Positional Object).

Trạm quan trắc (Positioning Unit – PU) nhận tín hiệu từ máy (các máy) LPSU, dùng trải phổ trực tiếp để xác định cự ly giữa hai antenna (giũa trạm quan trắc và LPSU). Từ đó xác lập một cung tròn trên GIS với trạm quan trắc PU đó là tâm điểm.

Cuối cùng ta có hai (ba) cung định vị có hai (ba) tâm là các PU đến LPSU. Do sẽ có hai điểm giao hội giữa hai cung tròn nên phải kết hợp với phương vị địa lý để loại điểm “ảo”. Phần còn lại là giao hội trên GIS (bản đồ số địa lý) –> định vị mục tiêu trên lưới kinh – vĩ và thể hiện trên bản đố GIS. Chỉ báo định vị đến LPSU (hay, và tín hiệu điều khiển) sẽ thực hiện trong khe thời gian – address (khi có nhiều LPSU cùng trên cung định vị).

Hệ làm việc trong thời gian thực.

Phân biệt cơ sở định vị của GPS với LPS :

Cơ sở của định vị GPS là xác định khoảng cách giữa vệ tinh (2,3 vệ tinh …) và máy thu (user) trên máy thu. LPS thì ngược lại : (2,3 … ) trạm xử lý PU xác định máy user LPSU cách nó bao xa) rồi tổng hợp các số liệu đó để cho ra toạ độ hình học của máy user ở trạm quan trắc (LPSU trên PU) rồi thể hiện thành toạ độ địa lý (vị trí LPSU thể hiện trên GIS). Muốn GPS thể hiện trên GIS (tức là tích hợp GPS-GIS) phải có những phương pháp đặc hiệu riêng như phương pháp tích hợp nền dữ liệu mà một nhóm của ĐHKT TP HCM đang nghiên cứu (Nguồn tin: Tạp chí Phát triển KHCN,2004; xem :

www.moc.gov.vn/site/vcms/down…achmentId=7069 ).

Như vậy có thể thấy rõ LPS khác hẳn GPS. Ở GPS thì máy user xác định toạ độ địa lý của mình bằng việc xác định khoảng cách đến các vệ tinh (trạm phát) còn ở LPS thì trạm trung tâm xác định vị trí địa lý của các máy user –> thể hiện trên GIS.

Xác định khoảng cách giữa máy phát và máy thu dựa vào phân tích phổ (trải phổ). Trên cơ sở nếu ta xác lượng được ma trận tương quan đầu vào và biết các véctơ dõi theo a(φ), thi ta có thể xác đinh công suất đầu ra theo hàm của góc sóng tới (là giá trị góc ϕ ứng với giá trị đỉnh của hàm phổ công suất.

– Thuật toán Music xác định theo ly giác và ma trận phương sai –> giao hội ly giác được sử dụng trong nhiều phương thức định vị.

– LPS dùng trải phổ trực tiếp (Direct Spectrum) với ứng dụng cosmetic space xác định khoảng cách với mã Golomb (Solomon W. Golomb). Trải phổ trực tiếp là phương pháp định vị hiệu quả, độ chính xác cao, tuy nhiên máy móc cồng kềnh hơn các phương thưc định vị khác (nên phải đặt tại máy trạm, không tích hợp trong máy user – cầm tay được).
(xin xem thêm các tài liệu định vị JPL-Golomb coding)

Về phần cứng thu phát radio định vị thì có các phương thức antenna tĩnh (đơn lập hay đa hợp) và antenna quay. Antenna tĩnh thì thuận tiện, gọn gàng và dễ quản lý, không cần cấu trúc quay và connect phưc tạp nên càng ngày càng được dùng nhiều hơn. Tuy nhiên độ chính xác cũng kém hơn antenna quay, nhất là trong phép đo sử dụng phương sai.

Các phương thức định vị đều có thể xác lập độ cao trên cơ sở giao hội với phương vị địa lý. Trình thức kỹ thuật là, ứng với 3 điểm định vị song hành, tính được khoảng cách đến điểm CC tương ứng với ly giác trên mặt phẳng tạo bởi 3 điểm đó. So sánh (hiệu số) số đo thực tế với số đo đến điểm CC sẽ có khoảng cách Hh qui định độ cao địa hình. Muốn có độ cao so với mực nước biển H phải giao hội tham số địa hình h với tham số mực nước biển cho trước.

Khe space-time khoảng 150 nano giây trong chu kỳ đồng bộ của các máy thu LPS cho phép một sự điều chỉnh độ chính xác rất cao. Khoảng cách địa lý nhỏ của các trạm PU cho phép thực hiện bằng nhiều cách kết nối để đảm bào mức độ đồng bộ đạt yêu cầu kỹ thuật, kể cả internet.

Trạm phát dùng máy thu có độ nhạy cao, noise reduction hiệu quả để “bắt” các tín hiệu từ máy user rồi xử lý. Rất nhiều hệ thống dùng cách này, trong đó có DF của Đức và nhóm nghiên cứu ứng dụng thuật toán Music định vị ở Việt Nam (Khoa Điện tử Viễn thông, Trường Đại Học Công nghệ, Đại Học Quốc Gia Hà Nội).

Muốn định vị thì tất yếu phải thoả mãn các điều kiện kỹ thuật, chưa kể các điều kiện “biên” như khi vào khu vực thung lũng thì phải tìm mô hay gò cao để đặt antenna sóng chạy thì mới định vị được.

Nguyên tắc riêng của LPS là các máy user phát không liên tục theo thời gian mặc định (mỗi 10 giây phát mã định vị một lần, trong 1/4 giây) và nhận xung đồng bộ thời gian (cuối chu trình phát trước, nghĩa là trước khi nó phát xung định vị đi. Xung đồng bộ thời gian cũng là lệnh phát xung định vị). Nghĩa là trạm dùng xung đồng bộ thời gian để điểu khiển máy user cần phát xung định vị hay không. Khi mất xung đồng bộ thời gian thì máy user cũng ngùng phát và báo ngưng (mất định vị). Vì vậy máy phát user LPSU có biên độ xung tức thời (do dó –> công suất tức thời) rất lớn và tiết kiệm năng lượng. Tính công suất trung bình là 2,5 W nhưng công súât tức thời đo được là trên 30W.
Khi di chuyển, máy user kết nối với NVIS antenna loại ghép (0,6 x 6) mét, tương đương chiều cao 5,5 mét so với mặt địa hình. Khi dừng lâu tại thực địa thì “giăng” antenna sóng chạy (progressive-wave antenna, travelling wave antenna) độ cao 2m (*). Cả hai trường hợp thực nghiệm, chúng đều dễ dàng vượt cự ly 50Km –> 100 Km với địa hình cao hay thông thoáng (rừng núi, hải đảo v.v…. ghe đánh cá giữa biển thông tín định vị trên 300 Km)

(*) Đây cũng là phương pháp phát sóng của máy PRC-10, dùng cho bộ binh Mỹ.

Phương thức định vị khác : Cũng có phương thức định vị PSD (Positioning by Satable Doopler) tiện dụng không thua kém LPS nhưng rẻ tiền hơn nhiều lần. Phạm vi hiệu dụng của PSD chỉ trong khoảng 10 Km –> 35 Km.
Điều bất tiện là PSD chỉ khá hơn cái vệ tinh GPS (ở xa lắc xa lơ) một chút ít. Sai biệt theo ly giác cỡ 1,5m

Độ chính xác của mỗi phương thức định vị khác nhau thì có mức cao thấp khác nhau, cần ở mức độ nào thì dùng ở mức độ ấy. Thậm chí người làm ra máy định vị cũng không hiểu hết nhu cầu của người dùng, vì vậy mà cần có nhiều phương án lựa chọn.

Tóm lại :  LPS có những thuận lợi rất lớn về định vị mặt đất và định vị cục bộ so với các phương thức định vị khác là do :

  • Tất cả diễn ra trên mặt đất (tiêu chuẩn dân dụng) nên chi phí đầu tư không lớn so với lợi ích mà nó mang lại.
  • LPS là tài sản và đầu tư riêng, sở hữu và thông tin cục bộ nên tính chủ động và bảo mật rất cao, không phải dùng công cụ “chùa” hoặc mang đồ free bán lấy tiền. Do đó cũng không phải nơm nớp lo đến ngày mất tất cả các ứng dụng đã được xây dựng như dùng GPS khi Mỹ đổi hệ, đổi mã, thậm chí hạ cấp độ “free” như đã từng xảy ra.
  • LPS cho phép trung tâm điều hành định vị và nắm bắt vị trí địa lý của đối tượng định vị ngoài ý chí của đối tượng. Thông tin vị trí của đối tượng định vị chỉ được cấp phát và kiểm soát tại trung tâm.
  • LPS có thể được dùng kèm chức năng đàm thoại + thông tin điều hành từ PU với LPSU và ngược lại (tất nhiên) mà không phải đầu tư thêm quá lớn. Đây là thuận lợi không thể có được với GPS.
  • Sự kết hợp LPS trên nền GIS cho phép vạch nên lộ trình địa lý của LPSU trong thời gian cài đặt trước làm cơ sở hành chính – pháp lý trong điều hành + điều khiển và động viên phương tiện vào quá trình sản xuất kinh doanh.

TTC 2010